SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
5
1
0
9
5
8
Tin chuyên ngành Thứ Ba, 15/05/2012, 15:05

Khi nào cho bé ăn hải sản?

 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị các bà mẹ nên cho con bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, sau đó bắt đầu ăn bổ sung và tiếp tục cho bú mẹ đến ít nhất 24 tháng tuổi.

Từ tháng thứ sáu trở đi mới bắt đầu cho trẻ ăn dặm. Ngũ cốc gạo ăn dặm (rice cereal) là thức ăn đầu tiên phù hợp vì nó mịn và giàu sắt. Có thể trộn ngũ cốc gạo ăn dặm dành cho bé với chút sữa mẹ, sữa công thức hoặc nước đun sôi để nguội.

Ngoài ngũ cốc gạo ăn dặm, các thức ăn dặm khác mà bé có thể tập ăn là rau củ như bí ngô, khoai tây, carrot và bí đỏ; hoa quả như quả lê, táo tây, chuối, dưa hấu… Với chuối chín, có thể dùng thìa nạo và cho bé ăn ngay. Với quả lê hay táo tây, nên hấp chín trước khi nghiền nhuyễn cho bé thưởng thức.

Nên bắt đầu cho bé thử 1-2 thìa thức ăn dặm. Sau đó, tăng dần lên thành 2-3 thìa. Cuối cùng, tăng thành 2-3 bữa ăn mỗi ngày. Mỗi lần, chỉ cho bé ăn một loại thức ăn mới. Sau 3-4 ngày, thêm một loại thức ăn mới vào thực đơn bé đang ăn.

Nguyên tắc cho ăn và chế biến thức ăn bổ sung: Cho trẻ ăn từ lỏng đến đặc, từ ít đến nhiều, tập cho trẻ quen dần với thức ăn mới.

Số lượng thức ăn và bữa ăn tăng dần theo tuổi, bảo đảm thức ăn hợp với khẩu vị của trẻ.

Chế biến các thức ăn phối hợp giàu dinh dưỡng, sử dụng các thức ăn có tại địa phương.

Bát bột, bát cháo của trẻ cần thêm nhiều loại thực phẩm khác nhau để tạo nên màu sắc thơm ngon hấp dẫn và đủ chất.

Khi chế biến đảm bảo thức ăn mềm dễ nhai và dễ nuốt. Thêm dầu, mỡ hoặc dầu vừng, dầu lạc (mè, đậu phộng) làm cho bát bột vừa thơm, vừa béo, mềm trẻ dễ nuốt lại cung cấp thêm năng lượng giúp trẻ mau lớn. Tất cả dụng cụ chế biến phải sạch sẽ, cần rửa tay sạch trước khi chế biến thức ăn và khi cho trẻ ăn.

Trong giai đoạn ăn dăm, vẫn cho trẻ bú mẹ càng nhiều càng tốt.

Cho trẻ ăn dặm nhiều hơn trong và sau khi ốm, cho trẻ ăn uống nhiều chất lỏng hơn đặc biệt khi bị tiêu chảy và sốt cao.

Không cho trẻ ăn bánh kẹo, uống nước ngọt trước bữa ăn vì cho ăn uống như vậy trẻ sẽ bỏ bữa hoặc ăn ít đi trong bữa ăn.

Rau quả là những thực phẩm hết sức cần thiết đối với trẻ em. Chúng có chứa một hàm lượng vitamin tương đối phong phú nhưng cung cấp ít calo, mỗi bữa ăn của bé nên bổ sung một lượng rau quả đều đặn, ngay cả khi các em bé không muốn ăn.

Rau xanh là một phần không thể thiếu trong thực đơn cho bé yêu.

Củ cà rốt rất giàu vitamin A, phốt pho, ma giê, canxi, kali, natri và sắt,

Trái cây cho bé ăn dăm các mẹ nên ép lấy nước như Nước nho: Nho rất giàu flavonoid, các chất chống ôxy hóa và vitamin. Nước táo màu hồng đào: Rất giàu vitamin A, canxi, folate, magie, phốt pho, Nước dưa hấu: Rất giàu vitamin A, vitamin C, canxi. 

Các phụ huynh thường rất quan tâm vấn đề bổ sung canxi cho con nhỏ, việc làm thiết thực nhất là trong những bữa ăn hằng ngày. Hải sản là món ăn được nhiều người ưa thích do dễ ăn và dễ chế biến lại gần với bữa ăn gia đình người Việt. Nhưng vấn đề ăn như thế nào là hợp lý và thực sự có dinh dưỡng.

Tuy nhiên do đạm trong hải sản nói chung cũng như cá  thường hay gây dị ứng cho trẻ vì vậy nên cho bé ăn từ tháng thứ 7 trở đi là tốt nhất, nhưng điều quan trọng là cho ăn từ từ ít một cho bé thích nghi dần, với những trẻ có cơ địa dị ứng thì các bà mẹ cần phải thận trọng hơn.

Nên cho bé ăn những loại hải sản nào ?

Trong số các loại hải sản, cá biển là loai thực phẩm tuyệt vời đối với sức khoẻ do chứa đạm có giá trị sinh học cao với tỷ lệ cân đối, phù hợp với cơ thể người. Cá còn rất giàu chất béo không no omega-3 cần để tạo màng tế bào thần kinh và có tác dụng phòng chống bệnh tim mạch. Do đó, ăn cá ít nhất 3 lần/tuần rất có lợi cho sức khoẻ. Gan cá còn rất giàu vitamin A và D. Hàu thì rất giàu kẽm là thành phần của hơn 300 enzyme bên trong cơ thể, là chất cần thiết để trẻ tăng trưởng, và cũng rất cần để phát triển hệ sinh dục. Hầu hết các loại hải sản đều giàu canxi (nhất là các loại cá nhỏ ăn được cả xương) nên rất cần cho xương và răng. Nhưng nếu không biết lựa chọn, bảo quản, chế biến hải sản đúng cách và ăn có mức độ thì có thể “lợi bất cập hại”.

Cá đồng tuy không chứa nhiều các axit béo chưa no như cá biển, nhưng cá đồng cũng chứa nhiều chất đạm quí, dễ hấp thu, lại ít gây dị ứng hơn cá biển, vì vậy khi mới bắt đầu ăn cá các bà mẹ nên cho ăn cá đồng trước, nên chọn cá nạc ít xương như : cá lóc, cá trắm, cá trê..

Cá biển nên ăn cá hồi, cá thu, cá ngừ, cá basa các loại cá này chứa nhiều omega 3 ( các axit béo chưa no rất tốt cho sự phát triển thần kinh và thị giác của trẻ, phát triển trí não giúp bé thông minh hơn)

Tôm cũng là thức ăn giàu đạm và canxi, từ tháng thứ 7 trở đi các bà mẹ có thể cho con ăn tôm đồng, tôm biển

Cua đồng là thức ăn chứa hàm lượng canxi cao, vì vậy nên cho trẻ ăn thường xuyên để cung cấp canxi cho trẻ.

 Các loại hải sản có vỏ như : hàu,  ngao, hến, trai  … nên cho bé ăn khi đã trên 1 tuổi, dùng nước nấu cháo, còn thịt xay băm nhỏ, các lọai hải sản này chứa nhiều kẽm, một vi chất quan trọng đối với trẻ em.

Hải sản thường giàu đạm và các dưỡng chất cần thiết khác. Hải sản cũng rất ít chất béo no và chứa axit béo không no omega-3, là chất béo thiết yếu cho cơ thể. Hải sản còn giàu vitamin (đặc biệt là vitamin nhóm B) và khoáng chất (canxi, kẽm, sắt, đồng, kali…). Do đó, hải sản sẽ góp phần đa dạng cho chế độ ăn cân đối, khoẻ mạnh và giúp trẻ tăng trưởng. Tuy nhiên, hải sản cũng ẩn chứa một số nguy cơ đối với sức khoẻ.

 Những loại hải sản nào không nên cho bé ăn ?

Một số loại cá chứa hàm lượng thủy ngân và các chất ô nhiễm cao. Nên tránh ăn cá mập, cá kình, cá lưỡi kiếm (cá cờ), cá thu lớn, cá ngừ lớn.

Điều quan trọng nhất là khi cho bé ăn hải sản các bà mẹ phải chọn loại còn tươi, không ăn hải sản đã chết vì dễ gây ngộ độc thức ăn cho bé.

 Cách chế biến hải sản  như thế nào ?

Cách chế biến hải sản  không đúng cũng có thể gây bất lợi cho cơ thể bé . Hải sản chế biến chưa chín hẳn (thường là các món gỏi cá sống, hàu sống, sò, mực nướng…) có thể ẩn chứa vi trùng và ký sinh trùng. Đó là nguyên nhân của không ít trường hợp nhiễm trùng đường ruột khi ăn hải sản. Ngày nay, khi môi trường ngày một ô nhiễm thì một nguy cơ nữa phải kể đến khi ăn nhiều hải sản là khả năng nhiễm kim loại nặng như thuỷ ngân.

Khi trẻ còn trong giai đoạn ăn bột và cháo: tốt nhất là xay, nghiền nhỏ cá, tôm để nấu bột hoặc cháo, nếu là cá đồng nhiều xương, bạn nên luộc chín cá rồi gỡ xương, cá biển nạc có thể xay sống như xay thịt rồi cho vào nấu bột, nấu cháo cho bé, với cua đồng thì giã lọc lấy nước để nấu bột, cháo, tôm to thì bóc vỏ sau đó xay hoặc băm nhỏ, với tôm quá nhỏ có thể giã lọc lấy nước  như nấu bột cua.

 Với các loại hải sản có vỏ thì luộc chín lấy nước nấu cháo, bột , thịt xay băm nhỏ cho vào cháo, bột

 Trẻ đã lớn hơn từ 3 tuổi trở lên : ngoài ăn các loại cháo, mỳ, miến…   nấu với hải sản  có thể cho bé ăn dạng luộc hấp : cua luộc, tôm luộc, ghẹ hấp ngao hấp…hạn chế xào nấu gì chứa nhiều  dầu mỡ, đảm bảo độ ngon, ngọt của hải  sản là cho bé thích ăn hơn.

 Điều quan trọng nhất là phải nấu chín kỹ không cho trẻ ăn gỏi cá, hoặc nấu chưa chín kỹ.

 Lượng hải sản ăn bao nhiêu  là đủ ?

Ngày nào bạn cũng có thể cho bé ăn 1 – 2 bữa từ hải sản, nhưng tuỳ theo tháng tuổi mà lượng ăn mỗi bữa khác nhau :

 Trẻ 7 – 12 tháng : mỗi bữa có thể ăn 20 – 30g thịt của cá, tôm ( đã bỏ xương, vỏ ) nấu với bột, cháo, mỗi ngày có thể ăn 1 bữa, tối thiểu ăn 3 – 4 bữa/tuần

Trẻ 1 -3 tuổi : mỗi ngày ăn 1 bữa hải sản nấu với cháo hoặc ăn mỳ, bún , súp…mỗi bữa ăn 30 - 40g thịt của hải sản

Trẻ từ 4 tuổi trở lên : có thể ăn 1 – 2 bữa hải sản/ngày, mỗi bữa có thể ăn 50 – 60g thịt của hải sản, nếu ăn  ghẹ có thể ăn ½ con/bữa, tôm to có thể ăn 1 – 2 con/bữa (con 100g cả vỏ).

Với những lợi ích về dinh dưỡng không thể chối cãi của các loại  hải sản các bà mẹ nên cho bé ăn hàng ngày, nhưng phải tập cho bé ăn ít một, từ ít đến nhiều, chọn loại tươi ngon, chế biến nấu chín kỹ để tránh ngộ độc thức ăn ở trẻ.

Kiều Trang 


Số lượt người xem: 2972 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày